Thứ Tư, 21 tháng 8, 2024

Điều 123. Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất【Luật Đất đai năm 2024】

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

  • a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức trong nước;
  • b) Giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc;
  • c) Giao đất, cho thuê đất đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài;
  • d) Cho thuê đất đối với tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

  • a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với cá nhân. Trường hợp cho cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 ha trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định;
  • b) Giao đất đối với cộng đồng dân cư.

3. Ủy ban nhân dân cấp xã cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.

4. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là cơ quan có thẩm quyền quyết định điều chỉnh, gia hạn sử dụng đất đối với trường hợp người sử dụng đất đã có quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành và các trường hợp quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của Luật này.

5. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều này không được phân cấp, không được ủy quyền.

Để phục vụ hiệu quả cho việc ôn tập và bổ sung phần lý luận, phân tích chính sách trong bài nghiên cứu của bạn, dưới đây là tổng hợp hệ thống thẩm quyền theo quy định mới, cùng các phân tích mang tính bản chất cốt lõi:

I. Hệ thống thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất (Luật Đất đai 2024)

Quy định tại Điều 123 phân chia thẩm quyền dựa trên đối tượng nhận đất/thuê đất:

1. Ủy ban nhân dân (UBND) cấp Tỉnh (Khoản 1)

Có thẩm quyền quyết định đối với các đối tượng mang tính chất pháp nhân hoặc có yếu tố nước ngoài:

  • Tổ chức trong nước.
  • Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc.
  • Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
  • Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao (chỉ áp dụng hình thức cho thuê đất).

2. Ủy ban nhân dân (UBND) cấp Huyện (Khoản 2)

Có thẩm quyền quyết định đối với các đối tượng mang tính cá thể, nội bộ địa phương:

  • Cá nhân.
  • Cộng đồng dân cư (chỉ áp dụng hình thức giao đất).
  • Cơ chế kiểm soát đặc biệt (Điểm mới): Trường hợp cho cá nhân thuê đất hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 ha trở lên $\rightarrow$ Phải có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh trước khi quyết định.

3. Ủy ban nhân dân (UBND) cấp Xã (Khoản 3)

  • Chỉ có thẩm quyền cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn (quỹ đất 5%).

II. Các nguyên tắc lý luận và điểm mới cốt lõi (Trọng tâm nghiên cứu)

1. Nguyên tắc "Nhất quán thẩm quyền" (Khoản 4)

  • Cơ quan nào có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan đó cũng là cơ quan có thẩm quyền quyết định điều chỉnh hoặc gia hạn sử dụng đất (áp dụng cho cả các quyết định đã ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực).
  • Điều này giúp tinh gọn thủ tục hành chính và làm rõ trách nhiệm quản lý xuyên suốt của một cấp cơ quan đối với một khu đất cụ thể.

2. Nguyên tắc "Không phân cấp, không ủy quyền" (Khoản 5)

  • Luật quy định rõ: Các cơ quan có thẩm quyền tại Khoản 1, 2, 4 (tức UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện) không được phân cấp, không được ủy quyền cho các cơ quan chuyên môn (như Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường) hoặc cấp dưới quyết định thay.
  • Ý nghĩa chính sách: Tập trung trách nhiệm pháp lý cao nhất vào người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh/huyện. Điều này nhằm hạn chế tối đa việc đùn đẩy trách nhiệm hoặc lạm quyền, chệch hướng trong công tác quản lý tài nguyên đất đai – một lĩnh vực vốn có nguy cơ tham nhũng và sai phạm cao.

3. Tư duy lập pháp qua cơ chế kiểm soát "Diện tích 0,5 ha" tại cấp huyện

  • Khác với các luật cũ thường phân loại thẩm quyền một cách tuyệt đối (cấp huyện quản lý cá nhân, cấp tỉnh quản lý tổ chức), Luật Đất đai 2024 đan cài một cơ chế kiểm soát ngang.
  • Khi cá nhân muốn chuyển đổi mục đích hoặc thuê đất nông nghiệp làm thương mại dịch vụ với quy mô lớn (từ 0,5 ha trở lên), UBND cấp huyện không thể tự quyết định mà bắt buộc phải xin ý kiến cấp tỉnh. Quy định này ngăn chặn tình trạng cá nhân hóa các dự án lớn núp bóng "mô hình kinh tế cá thể/trang trại" nhằm né tránh sự thẩm định từ cấp tỉnh, đảm bảo việc sử dụng quỹ đất lớn phù hợp với quy hoạch tổng thể của địa phương.

Gợi ý mở rộng cho Bài nghiên cứu (Chính sách hình sự & Quản lý Nhà nước)

Nếu bạn đang viết về các tội danh liên quan đến đất đai trong Bộ luật Hình sự (ví dụ: Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai - Điều 229 BLHS), nội dung Điều 123 này chính là lập trường pháp lý tối cao để xác định dấu hiệu "Vượt quá thẩm quyền" hoặc "Sai thẩm quyền" – một trong những hành vi khách quan phổ biến dẫn đến hậu quả lãng phí, thất thoát tài sản công.

Việc Luật 2024 "khóa" quyền ủy quyền tại Khoản 5 sẽ là cơ sở pháp lý rất mạnh để các cơ quan tố tụng định danh chính xác chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trực tiếp khi có sai phạm xảy ra.

Bạn có muốn đi sâu phân tích cơ chế phối hợp giữa cấp tỉnh và cấp huyện trong trường hợp phê duyệt diện tích đất trên 0,5 ha, hoặc thiết kế một bộ câu hỏi trắc nghiệm ôn tập về phần thẩm quyền này không?

Luật Gia Vlog - Kiettan Nguyen- tổng hợp & biên soạn
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
(đang cập nhật)
VĂN BẢN LIÊN QUAN :
(đang cập nhật)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét